THÔNG BÁO KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VỀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
Vừa qua, Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 67-TB/VPTW về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về đánh giá nguồn lực phát triển đất nước.
Theo Thông báo, sau 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những nền tảng rất quan trọng, tiềm năng và nguồn lực phát triển ngày càng đa dạng. Quy mô nền kinh tế đã vượt mốc 514 tỷ USD; tăng trưởng kinh tế đạt trên 8%; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP; khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Hạ tầng kinh tế - kỹ thuật được đầu tư mạnh mẽ; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số được xác định là trọng tâm đột phá; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng.
Tuy nhiên, để bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, cần quán triệt quan điểm không thể chỉ dựa vào việc kéo dài thêm mô hình tăng trưởng cũ. Nguồn lực phải được nhìn nhận không chỉ là yếu tố sẵn có, hữu hạn, mà phải được kiến tạo, làm giàu, làm mới, kết nối và lan tỏa; qua đó xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo đó, cần đánh giá đúng, đầy đủ các nguồn lực phát triển của đất nước, gồm kinh tế - tài chính; đất đai, tài sản công, hạ tầng và không gian phát triển; nhân lực; khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và dữ liệu; văn hóa, con người, thương hiệu quốc gia, niềm tin xã hội; thể chế và quản trị. Trong đó, thể chế được xác định là nguồn lực đặc biệt, nguồn lực của mọi nguồn lực; khi thể chế thông thoáng, các nguồn lực khác sẽ được giải phóng, mở ra không gian phát triển và tạo động lực tăng trưởng mới.
Cũng trong Thông báo số 67, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “huy động nguồn lực” sang “quản trị nguồn lực quốc gia”; xác định rõ cơ chế huy động, phân bổ, sử dụng và chuyển hóa nguồn lực. Nguồn lực công phải dẫn dắt nguồn lực tư nhân; đầu tư công phải kích hoạt đầu tư xã hội; FDI phải kết nối với khu vực trong nước; kết cấu hạ tầng phải mở ra không gian phát triển.
Trong thời gian tới, Đảng ủy Chính phủ được giao phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chỉ đạo các cơ quan liên quan tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, coi đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng để khơi thông các nguồn lực khác; trọng tâm là thể chế và năng lực thực thi trong các lĩnh vực đất đai, tài sản công, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, thị trường vốn, hợp tác công tư, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, khoa học, công nghệ và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát gắn với mô hình kinh tế mới.
Thứ hai, tổ chức kiểm kê, số hóa, rà soát, phân loại và xử lý dứt điểm các nguồn lực chậm đưa vào sử dụng như quy hoạch treo, dự án tồn đọng, chậm triển khai, tài sản công khai thác, sử dụng kém hiệu quả; đồng thời xác định rõ trách nhiệm, thời hạn, công cụ tháo gỡ và kết quả đầu ra.
Thứ ba, ưu tiên tập trung nguồn lực cho các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, kinh tế biển, liên kết vùng, các ngành có sức lan tỏa cao và các hạ tầng chiến lược như logistics, năng lượng, dữ liệu, đô thị, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do, khu công nghiệp công nghệ cao.
Thứ tư, làm rõ vai trò của doanh nghiệp, thị trường và khu vực tư nhân; coi kinh tế tư nhân trong nước là chủ thể trung tâm trong chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng; khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thị trường vốn để khơi thông, huy động nguồn lực trong dân cho phát triển kinh tế.
Thứ năm, triển khai chương trình năng suất quốc gia gắn với nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, chuyển đổi số doanh nghiệp, tự động hóa, tiêu chuẩn hóa, quản trị hiện đại, nâng cấp nhà cung ứng nội địa và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa; đồng thời chuẩn bị nguồn nhân lực chiến lược cho các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoa học dữ liệu, an ninh mạng, logistics, năng lượng mới, hydrogen xanh, điện hạt nhân, công nghệ sinh học, vật liệu mới, đường sắt tốc độ cao, tài chính hiện đại, quản trị công và quản trị doanh nghiệp.
Thứ sáu, xây dựng Chiến lược thương hiệu quốc gia thế hệ mới, chuyển định vị Việt Nam từ điểm đến có chi phí cạnh tranh sang quốc gia đổi mới sáng tạo, xanh, tin cậy, có năng lực công nghệ và bản sắc văn hóa.